Tin tức thị trường
75/100 Điểm: Chi tiết 5 tiêu chí phân loại đô thị loại đặc biệt của Việt Nam
Khám phá Đô thị loại đặc biệt - cấp phân loại cao nhất ở Việt Nam. Phân tích vai trò Thủ đô/trung tâm quốc tế, cách tính điểm và danh sách các thành phố đạt chuẩn.

Đô thị đặc biệt là gì?
Đô thị loại đặc biệt là cấp phân loại hành chính cao nhất tại Việt Nam, được quy định để xác lập vai trò Thủ đô hoặc chức năng là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia và quốc tế.
Sự đặc biệt của những thành phố này thể hiện ở chỗ chúng là đầu tàu chi phối và thúc đẩy sự phát triển của cả quốc gia trên mọi lĩnh vực then chốt, từ kinh tế, tài chính đến văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu quan trọng với thế giới.
Việc công nhận cấp bậc này đòi hỏi thành phố phải đáp ứng tuyệt đối các tiêu chí nghiêm ngặt của pháp luật (Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13) về quy mô dân số lớn, mật độ dân cư cao, cơ cấu lao động phi nông nghiệp vượt trội và hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ.
Tiêu chí đánh giá đô thị loại đặc biệt
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:
- Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000.000 người trở lên.
- Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên.
- Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.
Cách tính điểm phân loại đô thị loại đặc biệt
Tính điểm phân loại đô thị được quy định tại Điều 10 Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 26/2022/UBTVQH15 có quy định như sau:
1. Các tiêu chí phân loại đô thị được xác định bằng các tiêu chuẩn cụ thể và được tính điểm theo khung điểm phân loại đô thị quy định tại Phụ lục 1 của Nghị quyết này. Điểm của mỗi tiêu chí là tổng số điểm của các tiêu chuẩn của tiêu chí đó. Tổng số điểm tối đa của các tiêu chí là 100 điểm. Cụ thể như sau:
a) Tiêu chí vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội gồm 08 tiêu chuẩn; đánh giá tối thiểu là 13,5 điểm, tối đa là 18 điểm;
b) Tiêu chí quy mô dân số gồm 02 tiêu chuẩn là quy mô dân số toàn đô thị và quy mô dân số khu vực nội thành, nội thị; đánh giá tối thiểu là 6,0 điểm, tối đa là 8,0 điểm;
c) Tiêu chí mật độ dân số gồm 02 tiêu chuẩn là mật độ dân số toàn đô thị và mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị khu vực nội thành, nội thị, thị trấn; đánh giá tối thiểu là 6,0 điểm, tối đa là 8,0 điểm;
d) Tiêu chí tỷ lệ lao động phi nông nghiệp gồm 02 tiêu chuẩn là tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị; đánh giá tối thiểu là 4,5 điểm, tối đa là 6,0 điểm;
e) Tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị gồm 49 tiêu chuẩn; đánh giá tối thiểu là 45 điểm, tối đa là 60 điểm.
2. Định mức, phân bổ và phương pháp tính điểm, phương pháp thu thập, tính toán số liệu của từng tiêu chuẩn của các tiêu chí phân loại đô thị, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị được quy định tại các Phụ lục 1, 2 và 3 của Nghị quyết này.
3. Cách tính điểm của các tiêu chuẩn được quy định như sau:
a) Số liệu, thông tin làm căn cứ để xác định mức độ đáp ứng tiêu chuẩn đạt mức tối đa thì tiêu chuẩn đó được tính điểm tối đa, đạt mức tối thiểu được tính điểm tối thiểu, đạt giữa mức tối đa và mức tối thiểu được tính điểm nội suy giữa cận trên và cận dưới, đạt dưới mức quy định tối thiểu thì không tính điểm, không áp dụng tính điểm nội suy đối với việc đánh giá tiêu chuẩn quy định tại khoản 3 Điều 9 của Nghị quyết này. Trường hợp không xem xét tiêu chí quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 9 của Nghị quyết này thì tính điểm tối thiểu cho các tiêu chuẩn của tiêu chí đó;
b) Đối với thành phố trực thuộc trung ương, điểm đánh giá các tiêu chuẩn áp dụng đối với khu vực nội thành quy định tại Phụ lục 1 của Nghị quyết này được xác định trên cơ sở các quận, khu vực dự kiến thành lập quận;
c) Trường hợp áp dụng phân loại đô thị quy định tại khoản 2 Điều 9 của Nghị quyết này mà tiêu chuẩn có đơn vị tính là công trình, cơ sở, dự án (gọi chung là công trình) quy định mức tối thiểu là 01 công trình thì được tính điểm tối thiểu đối với tiêu chuẩn đó khi có 01 công trình; trường hợp quy định mức tối thiểu là từ 02 công trình trở lên thì số công trình dùng để tính điểm tối thiểu được giảm tương ứng theo tỷ lệ và làm tròn số nhưng không được ít hơn 01 công trình.
4. Đô thị được công nhận loại đô thị khi có các tiêu chí đạt điểm tối thiểu và tổng số điểm của các tiêu chí đạt từ 75 điểm trở lên.
Các đô thị đặc biệt của Việt Nam

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 2 đô thị được công nhận là Đô thị loại đặc biệt:
- Thủ đô Hà Nội
- Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
Đô thị loại đặc biệt không chỉ là một danh xưng hành chính mà là sự khẳng định về vị thế và vai trò chiến lược của một thành phố đối với sự phát triển chung của đất nước. Để đạt được cấp bậc cao nhất này, đô thị phải vượt qua các tiêu chuẩn khắt khe, đặc biệt là phải thỏa mãn yêu cầu về quy mô dân số khổng lồ, mật độ dân cư cao, cơ cấu lao động tiên tiến, và đặc biệt là sở hữu hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại.